Video clip
KCN Quế Võ 3 - Que Vo 3 IP
Số người đang online: 15
Số lượt truy cập: 10814039
Cập nhật: 27/09/2011
ĐẨU TƯ CỦA HÀN QUỐC TẠI CÁC KCN BẮC NINH – KẾT QUẢ VÀ XU HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI
Với diện tích 803.87 km2, dân số trên 1 triệu người, Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ nằm gọn trong vùng châu thổ sông Hồng; là cửa ngõ phía Bắc và cách Thủ đô Hà Nội 16km. Bắc Ninh là cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao). Với vị trí địa lý, xét tầm không gian lãnh thổ vĩ mô, Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Cụ thể là:

- Có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 18, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường thuỷ như sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và giao lưu với các tỉnh trong cả nước. Việc đầu tư xây dựng tuyến đường xuyên Á từ Côn Minh (Trung Quốc)-Quảng Ninh-Hải phòng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá.

- Giáp Thủ đô Hà Nội được xem như là một thị trường rộng lớn đứng thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá... đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước. Hà Nội sẽ là một trong những thị trường lớn tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ... Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia công và phát triển các xí nghiệp vệ tinh của Thủ đô trong quá trình CNH, HĐH.

- Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, trong đó đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ du lịch.

- Là cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, trên đường bộ giao lưu chính với Trung Quốc và có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng.

Cấu trúc địa lý không gian thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh. Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của Thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.

Xuất phát từ các điều kiện thuận lợi trên, tỉnh Bắc Ninh đã chủ trương đẩy mạnh phát triển nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH, “phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp”. Thực hiện định hướng đó, Bắc Ninh đã tiến hành quy hoạch xây dựng các KCN tập trunggắn liền với phát triển đô thị và công nghiệp làng nghề.

Tính đến thời điểm hiện tại Bắc Ninh đã có 15 Khu công nghiệp được Chính phủ chấp thuận với diện tích quy hoạch là 7.831ha, trong đó diện tích quy hoạch Khu công nghiệp là 6.847ha, quy hoạch khu đô thị, dịch vụ gắn liền với Khu công nghiệp là 984ha. Quy hoạch các Khu công nghiệp được gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, có tính đến sự phát triển đồng đều giữa các khu vực trong tỉnh và mối quan hệ liên kết kinh tế giữa các Khu, Cụm công nghiệp của tỉnh và các địa phương lân cận. Đã có 14 KCN được cấp GCNĐT, tổng vốn đầu tư 865 triệu USD. 10 KCN đã và đang đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, với tổng diện tích đất quy hoạch là 3.359,84ha, trong đó 2.282,21 ha đất công nghiệp cho thuê và 1.077,63 ha đất đô thị và dịch vụ, công cộng.

8 Khu công nghiệp đã có nhà đầu tư thuê để thực hiện dự án. Đến hết 30/6/2011, 500 dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (trong đó: 266 dự án đầu tư trong nước và 234 dự án có vốn đầu tư nước ngoài). Tổng số vốn đầu tư đăng ký của các dự án là 3.782,21 triệu USD, trong đó vốn FDI là 2.682,89 triệu USD, thuê 1.035,87ha đất công nghiệp. Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Mỹ, Đức, Cộng hòa Samoa, Trung Quốc, Hồng Kong… đầu tư trên các lĩnh vực: cơ khí chế tạo, điện, điện tử, tin học, sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất chế biến hàng đồ gỗ; may mặc, dệt, da giầy, rượu bia, các sản phẩm tiêu dùng, các ngành dịch vụ phục vụ và công nghiệp dân dụng. Trong đó có nhiều dự án của các Tập đoàn lớn như: Samsung, Canon, P&Tel, Hồng Hải, Mapletree…

Hiện có 262 doanh nghiệp đi vào hoạt động tại các KCN, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất nhập khẩu và nộp ngân sách hàng năm tăng cao, năm sau cao hơn năm trước từ 1,2 – 2 lần. Sử dụng 67.739 lao động, trong đó lao động địa phương là 29.715 người, chiếm 47,3%; đóng góp lớn vào quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH tỉnh Bắc Ninh.

Xác định vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong nguồn vốn quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế, do đó, tỉnh đã định hướng tập trung thu hút mạnh nguồn vốn này từ các thành phần kinh tế ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau.

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói chung, FDI của Hàn Quốc nói riêng vào các KCN Bắc Ninh đã tăng lên đáng kể. Theo KOTRA (cơ quan Xúc tiến Ngoại thương Hàn Quốc), đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam sẽ tăng mạnh sau khi Hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa hai nước có hiệu lực từ ngày 1/6/2007. Các chuyên gia kinh tế Hàn Quốc cho rằng, Việt Nam đang trở thành điểm hấp dẫn đầu tư ở châu Á và việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ giảm thiểu yếu tố bất ổn định về kinh tế tại thị trường mới nổi này. Những yếu tố này đã khiến ngày càng nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc muốn tìm đến thị trường Việt Nam để mở rộng cơ hội kinh doanh. Thực tế cho thấy, trong năm 2007, năm đầu tiên thực hiện FTA, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam khoảng 1,5 tỷ USD với các dự án lớn trong ngành luyện kim và xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy thấp hơn so với mức kỷ lục 2,68 tỷ USD năm 2006 nhưng trung bình mức đầu tư sẽ tăng khoảng 10% hàng năm. Những năm trở lại đây, quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc đã phát triển vô cùng nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng thương mại song phương trong 2 năm 2007, 2008 tăng trung bình tới 42,5%/năm.

Hiện nay, Hàn Quốc đã đầu tư vào khoảng 2.284 dự án, với tổng số vốn đăng ký còn hiệu lực khoảng 22,4 tỷ USD, đứng đầu về số dự án đầu tư và đứng thứ hai về vốn trong số 88 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, tạo công ăn việc làm cho khoảng 400.000 lao động, nộp ngân sách hàng năm khoảng 1 tỷ USD. Các lĩnh vực truyền thống mà Hàn Quốc tập trung đầu tư là các ngành công nghiệp nặng, sản xuất chế tạo đống tàu, luyện kim, tài chính, xây dựng, sắt thép, hàng điện tử và thiết bị máy móc. Với những nguồn lực sẵn có, thuận lợi về vị trí địa lý, chính trị ổn định, thị trường Việt Nam sẽ ngày càng hấp dẫn các doanh nghiệp Hàn Quốc do thuế nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị máy móc phục vụ quá trình sản xuất tại Việt Nam và thuế xuất khẩu hàng hóa sang Hàn Quốc giảm mạnh. Việt Nam đang trở thành điểm hấp dẫn đầu tư ở châu Á, với việc các tập đoàn lớn của Hàn Quốc như Posco, Samsung, Lotte, Kumho Asiana... bắt đầu làn sóng đầu tư mới tại đây. Mới đây, ngày 7/7/2011, tại Hà Nội, tập đoàn bán lẻ lớn nhất Hàn Quốc E-mart đã ký kết hợp đồng liên doanh với tập đoàn U&I của VN để thành lập E-mart Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đã và đang tìm đến thị trường Việt Nam để mở rộng cơ hội kinh doanh, tăng cường đầu tư vào các ngành công nghiệp trọng điểm. Ngoài ra, các công ty vừa và nhỏ cũng sẽ tăng cường đầu tư vào Việt Nam hoặc di chuyển chi nhánh từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Năm 2007, các KCN Bắc Ninh bắt đầu tiếp nhận dòng vốn của nhà đầu tư Hàn Quốc. Quý I/2008, Bắc Ninh đã tiếp nhận dự án đầu tư sản xuất điện thoại di động của Tập đoàn Samsung đầu tư vào KCN Yên Phong, mở đầu cho việc thu hút đầu tư các doanh nghiệp vệ tinh của Tập đoàn này.

Đến thời điểm hiện tại, có 68 dự án của Hàn Quốc được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào các KCN Bắc Ninh với tổng số vốn đăng ký là 1.030 triệu USD (tương đương 21.115 tỷ VNĐ), thuê 527,3751 ha đất, quy mô vốn bình quân là 15,147 triệu USD/dự án, diện tích chiếm đất bình quân là 1,86ha/dự án. Các dự án FDI của Hàn Quốc chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, điện thoại di động, cơ khí chính xác, chế biến nông sản thực phẩm, các ngành dịch vụ phục vụ và công nghiệp dân dụng. Dự án do Tập đoàn Samsung đầu tư đã kéo theo 24 dự án vệ tinh với tổng vốn đầu tư đăng ký 203,4 triệu USD, chuyên sản xuất linh kiện cung cấp cho tập đoàn này. Từ đó, có thể thấy thu hút được 1 dự án lớn sẽ có tác động lan tỏa đến nhiều mặt của quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Các đối tác đầu tư cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực từ những dự án có quy mô vốn nhỏ sang dự án có quy mô vốn lớn. Hiện nhà đầu tư Hàn Quốc lớn nhất vào Bắc Ninh là Tập đoàn Sam Sung với tổng số vốn đăng ký là 670 triệu USD (chiếm 65,04% tổng vốn FDI Hàn Quốc vào Bắc Ninh), thuê 42 ha đất; Công ty TNHH thực phẩm Orion ViNa với tổng vốn đầu tư là 47 triệu USD (chiếm 4,56%); Công ty TNHH SamSung SDI Việt Nam, vốn đăng ký 15 triệu USD (chiếm 1,45%)…Bên cạnh đó là những dự án có quy mô vừa với tổng vốn đăng ký từ 5 đến 10 triệu USD.

Các dự án FDI Hàn Quốc vào KCN Bắc Ninh đã phát huy hiệu quả cao, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:

Năm 2008, GTSXCN đạt 102 tỷ đồng, chiếm 0,88 % GTSXCN của các KCN (11.517 tỷ đồng); nộp ngân sách 6,924 tỷ đồng, chiếm 1,72% (6,924/402) nộp ngân sách của DN KCN. Năm 2009, GTSXCN đạt 6.073 tỷ đồng, chiếm 35,65% GTSXCN của các KCN (19.421 tỷ đồng); nộp ngân sách 559,4 tỷ đồng, chiếm 69,93% (559,4/800) nộp ngân sách của DN KCN. Năm 2010, GTSXCN đạt 35.747 tỷ đồng, chiếm 47,29% GTSXCN của các KCN (75.597 tỷ đồng); nộp ngân sách 311,533 tỷ đồng, chiếm 14,52% (311,533/2.146) nộp ngân sách của DN KCN.

Về kim ngạch xuất khẩu: năm 2009 đạt 245,7 triệu USD, chiếm 23,63% (245,7/1.040) giá trị kim ngạch xuất khẩu của các KCN, 2010 đạt 1.655 triệu USD, chiếm 47,87% (1.655/3.457) giá trị kim ngạch xuất khẩu của các KCN.

Về kim ngạch nhập khẩu: năm 2009 đạt 200,9 triệu USD; năm 2010 đạt 1.539 triệu USD, chiếm 54,24% (1.539/2.837) giá trị kim ngạch nhập khẩu của các KCN.

Về lao động: Nếu như năm 2007, chỉ có 02 DN đi vào hoạt động sử dụng 62 lao động; năm 2008: 185 người; năm 2009: 3.832 người thì đến năm 2010, 18 doanh nghiệp sử dụng 12.791 lao động, góp phần quan trọng vào giải quyết công ăn việc làm cho lao động địa phương và một số tỉnh lân cận.

Kết quả trên cho thấy, các doanh nghiệp FDI Hàn Quốc ngày càng có sự đóng góp lớn vào GTSXCN, kim ngạch xuất nhập khẩu và tạo việc làm cho người lao động, góp phần tạo giá trị gia tăng của nền kinh tế, phát triển nguồn thu, giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Qua sự phân tích trên có thể đánh giá những ưu điểm, những hạn chế của FDI Hàn Quốc tại các KCN Bắc Ninh như sau:

* Ưu điểm:

- Phát huy tốt hiệu quả đầu tư, các lĩnh vực sản xuất đều có giá trị gia tăng cao, đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp; kim ngạch xuất nhập khẩu, thu nộp ngân sách; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hiện đại; thúc đẩy quá trình phát triển kết cấu hạ tầng xã hội;

- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo việc làm có thu nhập cao, ổn định cho người lao động;

- Thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp; tăng cường mối liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong các KCN và với các doanh nghiệp ngoài KCN;

- Góp phần hình thành và phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh (công nghệ điện tử, viễn thông), xây dựng Bắc Ninh trở thành trung tâm điện tử viễn thông của Khu vực Miền Bắc và Việt Nam;

- Tạo điều kiện tiếp cận nhanh công nghệ sản xuất, trình độ quản lý hiện đại;

- Tác động lan tỏa trong thu hút đầu tư; xây dựng hình ảnh và thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các KCN Bắc Ninh với các quốc gia trong khu vực và các vùng lãnh thổ.

* Một số hạn chế:

Tuy nhiên, doanh nghiệp FDI Hàn Quốc tại các KCN Bắc Ninh còn một số hạn chế:

- Vốn đầu tư tăng nhanh nhưng vốn thực hiện chậm so với tiến độ đăng ký nên chưa phát huy tối đa hiệu quả đầu tư;

- Việc phát triển các mối liên kết giữa các doanh nghiệp không thuộc FDI Hàn Quốc với khối doanh nghiệp này còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc phát triển của các doanh nghiệp trong nước và các loại hình dịch vụ phụ trợ;

- Còn thất thoát về nguồn thu thuế của Nhà nước qua hiện tượng chuyển giá trong hoạt động thương mại giữa nội bộ các công ty thông qua hình thức gia công cho Công ty mẹ hoặc gia công cho bạn hàng;

- Một số doanh nghiệp chưa nghiêm túc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người lao động dẫn đến tình trạng tranh chấp, đình công, lãn công; chi phí trả lương cho người lao động chưa tương xứng với công việc người lao động đảm nhận;

- Đa số các doanh nghiệp FDI Hàn Quốc đều sử dụng chủ yếu lao động nữ gây nên sự mất cân đối về lao động trong lực lượng lao động, ảnh hưởng đến sự phát triển của một số ngành công nghiệp khác như may mặc, sản xuất hàng dân dụng…

Thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Vai trò của FDI đối với mỗi địa phương là không thể phủ nhận. Thực tế cho thấy có một mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế của địa phương với lượng vốn FDI thu hút được. Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đòi hỏi phải được cụ thể hoá cho phù hợp với đặc thù của địa phương. Hơn thế nữa, đối tượng thực thi những chính sách này cũng như người hướng dẫn thực thi chính sách lại diễn ra tại một địa phương cụ thể. Do đó, hiệu quả của chính sách thu hút FDI phụ thuộc vào năng lực, hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương. Vì thế, để thu hút FDI hiệu quả cần vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách vào tình hình cụ thể của địa phương.

Chính sách thu hút FDI của Bắc Ninh nói riêng (đặc biệt là dòng vốn của Hàn Quốc) cũng như những chính sách phát triển KCN cần phải được hoạch định trên cơ sở phát huy những ưu thế của từng KCN. Sự khác nhau về vị trí địa lý, điều kiện kết cấu hạ tầng, năng lực tài chính và cách quảng bá hình ảnh về KCN của mỗi Công ty kinh doanh hạ tầng KCN, cũng như nguồn nhân lực hiện có… dẫn đến sự ưu tiên bố trí cơ cấu ngành nghề tại KCN cũng khác nhau. Một điều cần thấy rằng, mỗi KCN có ưu thế khác nhau, nguồn lực huy động cũng như điều kiện phát triển khác nhau. Do đó, đòi hỏi chính sách thu hút đầu tư cũng khác nhau. Thực tế chứng minh không phải lúc nào giải pháp được thực thi khá hiệu quả ở KCN này cũng thu được kết quả tương tự ở KCN  khác. Vì thế, tìm một giải pháp thu hút FDI chung cho mọi KCN là một bài toán khó.

Một điểm cần lưu ý nữa trong hoạch định chính sách thu hút đầu tư với KCN là sự phát triển không đồng đều của các địa phương. Sự thu hút vốn đầu tư vào các ngành nghề, loại hình công nghệ có thể hấp thụ tuỳ thuộc lớn vào trình độ phát triển của mỗi địa phương, của từng nhà đầu tư. Hơn thế nữa, năng lực quản lý của các cấp chính quyền cũng là nhân tố ảnh hưởng đến các chính sách thu hút đầu tư nói chung và FDI nói riêng ở mỗi KCN. Thường thì đối với tỉnh trong giai đoạn đầu phát triển, FDI tập trung chủ yếu ở các KCN có điều kiện thuận lợi, kinh tế phát triển. Trong số các dự án của Hàn Quốc vào Bắc Ninh trong những năm qua cho thấy, chủ yếu tập trung ở KCN Yên Phong, Quế Võ. Các KCN khác do quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện nên chưa thu hút được dòng vốn của Hàn Quốc vào địa bàn. Vì vậy, để duy trì ổn định, khai thác có hiệu quả dòng vốn FDI Hàn Quốc đầu tư vào địa phương, ngoài cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì chính sách và hành động của chính quyền cấp tỉnh là nhân tố quyết định, đặc biệt là phải phân tích, nhận định được xu hướng vận động của FDI Hàn Quốc trong những năm tới.

* FDI Hàn Quốc vào các KCN Bắc Ninh:

Thứ nhất, có xu hướng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư vào KCN.  Đặc biệt, vai trò quan trọng của thương hiệu nhà đầu tư lớn như SamSung sẽ là nhân tố quan trọng để Bắc Ninh thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc. Địa phương nào có lợi thế so sánh tốt, có môi trường đầu tư cạnh tranh sẽ có cơ hội thu hút được nhiều FDI hơn. Việc Tập đoàn Samsung cùng với các doanh nghiệp vệ tinh đầu tư vào các KCN Bắc Ninh thời gian qua đã khẳng định được thương hiệu, chất lượng của các KCN Bắc Ninh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hình ảnh của các KCN Bắc Ninh nói riêng, của tỉnh Bắc Ninh nói chung trong việc thu hút các dự án đầu tư đến từ Hàn Quốc.

Thứ hai, các doanh nghiệp FDI đã đầu tư và hoạt động tại các KCN Bắc Ninh đang phát huy hiệu quả cao, cùng với đó là sự triển khai đầu tư từ các Tập đoàn lớn đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới. Tuy nhiên, các ngành công nghiệp phụ trợ, các loại hình dịch vụ, hỗ trợ từ chính các doanh nghiệp FDI của Hàn Quốc chưa phát triển. Trong những năm tới, cùng với chủ trương của Nhà nước thúc đẩy việc thu hút đầu tư để phát triển các loại hình doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ, xu hướng đầu tư vào Việt Nam nói chung và các KCN Bắc Ninh nói riêng sẽ được bổ sung bởi các loại hình doanh nghiệp này. Đây là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, do đó dự án đầu tư của họ sẽ là những dự án đầu tư có quy mô không lớn, dự kiến quy mô vốn đầu tư từ khoảng 500.000USD đến 01 triệu USD.

Bên cạnh đó, sẽ xuất hiện các doanh nghiệp đầu tư để hoạt động trong các lĩnh vực phụ trợ khác như: đào tạo công nhân công nghệ cao; dịch vụ phục vụ phát triển công nghệ cao…

Như vậy, có thể nói xu hướng và đặc điểm vận động của dòng vốn FDI trên thế giới nói chung, FDI Hàn Quốc nói riêng có ảnh hưởng tích cực đối với việc thu hút FDI vào Bắc Ninh. Nắm bắt xu hướng trên rất quan trọng trong xây dựng chính sách thu hút có hiệu quả nguồn vốn FDI phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.

Từ đánh giá trên, cần có giải pháp hữu hiệu để thu hút FDI Hàn Quốc vào các KCN Bắc Ninh trong những năm tới, đó là:

* Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư:

Trên cơ sở chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia và chương trình xúc tiến đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỉnh căn cứ trên lợi thế và đặc thù của mình xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư cần thực hiện qua các hình thức như: tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo xúc tiến đầu tư với sự tham gia của các nhà ĐTNN trong và ngoài nước; duy trì các trang web cung cấp thông tin ĐTNN và các trang web của các KCN, soạn và in các sách hướng dẫn về ĐTNN tại địa phương bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài; giới thiệu về tiềm năng, lợi thế địa phương qua đĩa CD, DVD, phim ảnh...; quảng bá và tuyên truyền về tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng và tiến hành các hoạt động hợp tác quốc tế phục vụ cho xúc tiến đầu tư; công khai danh mục các dự án đã đầu tư vào Bắc Ninh...

 

* Chống tham nhũng và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính, tạo niềm tin cho các Nhà đầu tư:

Chống tham nhũng và nâng cao hiệu quả nền hành chính có liên quan chặt chẽ đến việc lành mạnh hoá môi trường đầu tư, từ đó đẩy mạnh thu hút FDI. Để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có thể thực hiện các biện pháp giảm các thủ tục hành chính phiền hà, công khai hoá và minh bạch hoá quá trình cấp phép, giải quyết kịp thời các khiếu nại của các nhà ĐTNN; kiên quyết xử lý những trường hợp sách nhiễu, vô trách nhiệm của các cán bộ, cơ quan công quyền. Cần chấp hành nghiêm túc, đúng pháp luật, đồng thời chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp FDI. Tiến hành rà soát và kiên quyết loại bỏ những văn bản ban hành trái với quy định chung của nhà nước, quán triệt nguyên tắc “một cửa”; cùng với đó, khắc phục tình trạng quản lý chồng chéo, phân tán, kém hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước. Chống tham nhũng thông qua các hoạt động: cải cách chế độ công chức, công vụ; thực hiện nghiêm chế độ thủ trưởng trong các cơ quan hành chính; phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp; xử lý nghiêm, kịp thời những cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp. Tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo tỉnh và các nhà ĐTNN...Giải quyết tốt các vấn đề nêu trên sẽ xây dựng được một hệ thống hành chính mạnh, giải quyết hiệu quả công tác quản lý và thực hiện các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhà đầu tư trong quá trình hoàn thiện thủ tục, sớm triển khai thực hiện dự án, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.

* Đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào các KCN:

Hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào các KCN là nhân tố quan trọng quyết định sự đầu tư của Nhà đầu tư, đồng thời cũng là nhân tố giải quyết triệt để các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân xung quanh KCN. Do đó, cần có sự chỉ đạo sát sao các Chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN trong việc đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng của KCN về điện, giao thông, cấp nước, xử lý nước thải, thông tin liên lạc, tài chính ngân hàng, hải quan ... đảm bảo đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Kiên quyết chỉ đạo hoàn thiện việc đầu tư hệ thống và nhà máy xử lý nước thải của các KCN trước khi đưa KCN vào hoạt động. Công tác triển khai đầu tư hệ thống hạ tầng trong KCN cần có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống hạ tầng ngoài KCN tạo sự đồng bộ, thống nhất, gắn chặt quy hoạch KCN với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phát triển nhanh các hạng mục hạ tầng xã hội về nhà ở cho người lao động, hình thành các Khu đô thị ưu tiên cho đầu tư xây dựng nhà cho người có thu nhập thấp. Lưu ý tập trung phát triển các Khu đô thị này ở các khu vực nông thôn để tránh sự quá tải và phát triển đô thị mất cân đối giữa các địa phương trong nội bộ tỉnh, sự quá tải của khu vực thành thị. Đây là cơ sở để tỉnh phát triển nguồn nhân lực thông qua biến động cơ học của một bộ phận dân số đến từ các địa phương, vùng lân cận bổ sung cho nguồn nhân lực của tỉnh.

* Xây dựng và triển khai có hiệu quả đề án quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực của địa phương, chú trọng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Thực tế tốc độ phát triển các KCN thời gian qua và dự báo trong những năm tới, nhu cầu về nhân lực đáp ứng hoạt động sản xuất kinh doanh của các Nhà đầu tư tại các KCN là rất lớn. Việc quy hoạch nguồn nhân lực đủ về số lượng, có chất lượng cao sẽ là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN, đồng thời là yếu tố quan trọng khi các Nhà đầu tư xem xét đầu tư vào các KCN. Do đó, tỉnh cần có sự chỉ đạo các cấp, các ngành liên quan hoàn thiện và đưa đề án quy hoạch phát triển nguồn nhân lực vào triển khai thực hiện.

Tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích các tổ chức chính trị xã hội, các thành phần kinh tế đầu tư, liên kết đầu tư phát triển các loại hình đào tạo nghề cho người lao động. Xây dựng đội ngũ lao động có chất lượng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

* Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ sau cấp phép đầu tư:

Sau khi cấp phép đầu tư, các cơ quan cấp giấy phép đầu tư rà soát, phân loại các dự án FDI đã được cấp giấy phép đầu tư để có những biện pháp thích hợp, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Trong phạm vi thẩm quyền sản xuất kinh doanh của mình, các cơ quan quản lý có thể hỗ trợ thông qua khuyến khích và động viên kịp thời; tháo gỡ những khó khăn của doanh nghiệp về: giải phóng mặt bằng, thủ tục nhập máy móc thiết bị, nguyên liệu phục vụ dự án đầu vào, thị trường tiêu thụ, thuế...; giải quyết các vướng mắc, kể cả việc điều chỉnh mục tiêu và quy mô hoạt động của dự án. Đồng thời đối với các dự án chưa triển khai hoặc không có khả năng hoạt động cần kiên quyết thu hồi giấy phép, dành địa điểm cho các nhà đầu tư khác. Thực hiện công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI. Chỉ đạo các Sở, ngành thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nhằm nâng cao giá trị, vị thế của tỉnh đối với tỉnh bạn và với các nhà đầu tư./.

Ngô Sỹ Bích - Trưởng ban Ban quản lý các KCN Bắc Ninh

Thông tin cần biết
Nguồn